Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh-nghiem-nuoi-con. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh-nghiem-nuoi-con. Hiển thị tất cả bài đăng

24/3/17

Phương pháp hữu ích để tăng chiều cao tối đa trong giai đoạn vàng

Trong xã hội hiện đại, chiều cao lý tưởng là một lợi thế quan trọng quyết định thành công của các bạn khi giao tiếp, ứng xử, gặp gỡ... Vậy để có thể tăng chiều cao tối đa cho bản thân hay con trẻ cần chú ý thông tin gì trong giai đoạn vàng của mỗi con người?

Giai đoạn vàng tăng chiều cao là gì?


Quá trình phát triển xương được hình thành ngay từ giai đoạn bào thai và tiếp tục đến hết tuổi 25 đối với nam, 23 đối với nữ. Nhưng tốc độ tăng trưởng không đồng đều mà sẽ chia ra thành từng giai đoạn. 
Kinh nghiệm làm mẹ, ai cũng cần biết, trẻ sinh ra đủ tháng phát triển tốt hơn khi chào đời, sẽ có chiều cao khoảng 50cm. Trung bình trong năm đầu tiên bé sẽ tăng khoảng 25cm, bé trai có thể cao hơn bé gái 2cm. 

Từ 1 tuổi trở lên trẻ tăng chậm hơn, chỉ khoảng 6-7cm/năm, tương đương 0,5cm/tháng.

Tuổi dậy thì đối với bé gái từ 10-16 tuổi, bé trai 12 đến 18 tuổi, được coi là giai đoạn vàng vì trẻ có thể sẽ có 1 năm chiều cao tăng vọt từ 8 đến 10cm nếu được nuôi dưỡng tốt. Sau thời kì này, chiều cao chỉ tăng trung bình 2cm/năm. 


Bổ sung dinh dưỡng cân bằng và hợp lý để tăng chiều cao


Cách để tăng chiều cao tối đa, có thể bổ sung các sản phẩm thực phẩm chức năng hỗ trợ giúp trẻ cao thêm từ 4,9 đến 7,3cm nếu sử dụng đúng và phù hợp. Nên lựa chọn sản phẩm chứa đa dạng những khoáng chất cần thiết cho sự phát triển xương như Canxi, Magie, Đồng, Kẽm, Mangan, Boron, Silic, DHA, Chondroitin, đặc biệt là Canxi dưới dạng nano giúp hấp thu tối đa và đồng thời hạn chế tình trạng táo bón và sỏi thận. Quan trọng nhất vẫn là Vitamin D và MK7 giúp hấp thụ và chuyển hóa những khoáng chất vào tận xương. Nhờ vậy, xương sụn dài ra nhanh, luôn chắc khỏe và dẻo dai. 
Vì trẻ nhỏ thường sợ hãi và không chịu uống những loại dược phẩm, nhất là nếu chúng có mùi vị đắng hay mùi khó chịu. Chính vì vậy, khi cho trẻ uống canxi, có thể đồng thời cho trẻ dùng nước cam, bưởi, chanh để át đi mùi tanh. Bên cạnh đó, vitamin C cũng giúp hòa tan và tăng cường hấp thụ canxi vào cơ thể. 
Tiện lợi hơn thì cha mẹ có thể lựa chọn cho trẻ dược phẩm dạng cốm, thơm ngon mà lại phù hợp với trẻ từ 6 -9 tháng tuổi và dược phẩm dạng viên phù hợp với độ tuổi từ 10 đến 18 tuổi. 

Thể dục thể thao đóng vai trò then chốt giúp cơ thể cao lớn khỏe mạnh


Thường xuyên luyện tập thể thao đúng các giúp tăng cường quá trình trao đổi chất trong cơ thể, khiến các hormone tăng trưởng tiết ra nhiều hơn, đồng thời giúp tăng khối lượng xương khi trưởng thành. Nhưng phải tập thể thao đúng cách mới đạt được hiệu quả mong muốn. 
Thời gian tập tối thiểu là 1 tiếng/ngày, với cường độ vừa phải và tăng dần lên. Nếu thời gian ngắn hơn và chỉ cần vận động nhẹ nhàng như đi bộ, chạy maratong thì không có tác dụng. Tuy nhiên, nếu cường độ tập quá căng thẳng sẽ làm tổn thương dây chằng và hệ cơ, gây phản tác dụng. 

Bất kỳ môn thể thao nào cũng có tác dụng giúp nâng cao sức khỏe. Nhưng việc tập luyện cũng cần có sự chọn lọc. Các bài tập kéo giãn như yoga, múa, uốn dẻo sẽ có tác động trực tiếp đến các mô sụn ở khớp xương, làm giãn các dây gân, kéo dài cột sống và săn chắc cơ bắp, từ đó giúp tăng chiều cao tối đa nhất. 

14/6/16

Cha mẹ hãy dạy trẻ học bơi càng sớm càng tốt

Tình trạng đuối nước ở trẻ em Việt Nam được xếp vào hàng cao nhất nhì khu vực Đông Nam Á và cao gấp 8 - 10 lần các nước phát triển, chính vì vậy cha mẹ hãy dạy trẻ học bơi càng sớm càng tốt.

Tại sao cần dạy trẻ học bơi càng sớm càng tốt?


Trung bình mỗi năm ở Việt Nam có 7.000 trẻ em bị chết vì đuối nước, trong đó 50% là trẻ dưới 5 tuổi, trẻ từ 18 tháng tuổi đến 4 tuổi có tỷ lệ đuối nước cao nhất, đứng sau đó là trẻ từ 5 – 9 tuổi. 

Tai nạn liên quan đến đuối nước xảy ra rất phổ biến ở Việt Nam nên việc dạy trẻ học bơi và kĩ năng ứng phó khi tai nạn liên quan đến sông nước xảy ra là vấn đề cực kỳ cần thiết mà người chịu trách nhiệm trước tiên chính là các bậc phụ huynh.

Dạy trẻ học bơi từ nhỏ là vấn đề cần thiết

Ở các nước phát triển dạy trẻ nhỏ học bơi ngay từ khi lọt lòng

Ở các nước tiên tiến như Mỹ, Anh, Úc, Đức và nhiều nước phương Tây, cha mẹ rất chú trọng cho con làm quen với bơi lội từ vài tháng tuổi và dịch vụ dạy trẻ sơ sinh bơi lội rất phát triển. Tại các lớp này, trẻ được học rất nhiều kỹ năng để các bé có thể bơi chìm đầu trong nước, lúc mệt lật mình nằm thở trên lưng, rồi lại úp mình bơi tiếp... Ngoài ra, bơi lội cũng nằm trong danh sách các môn học bắt buộc hoặc tự chọn tại các trường trung học.

Tại Mỹ, Hiệp hội Nhi khoa Mỹ cho biết trẻ em có thể học bơi an toàn từ khi 1 tuổi. Tuy nhiên, tại quốc gia hàng đầu về chăm sóc sức khỏe trẻ em này, các lớp học bơi "cha và con" để dạy cho trẻ sơ sinh học bơi chỉ vài tháng tuổi rất phổ biến. Hiệp hội Chữ thập đỏ Mỹ cho rằng dạy bơi cho trẻ sớm sẽ giúp trẻ tránh được tai nạn đuối nước, tuy nhiên cần phải chú ý đến quy mô lớp học (mỗi lớp không nên quá 10 học sinh) và mức độ giám sát của người lớn.

Tại Phần Lan và nhiều nước phương Tây, cha mẹ rất chú trọng cho con làm quen với bơi lội từ bé. Tại các bể bơi, việc trẻ em vài tháng tuổi hoặc 1 vài tuổi đi bơi cùng cha mẹ là điều rất thường thấy. Hơn nữa, bơi lội đã được đưa vào chương trình giáo dục thể chất phổ thông với trên 80% trẻ em lớp 6 biết bơi thành thạo. Ngoài ra, các bài học bơi còn được chú trọng hơn cho trẻ em đang đi nhà trẻ và mới bắt đầu vào lớp 1. 

Lưu ý khi cho trẻ học bơi

- Chọn bể bơi tốt, nước sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn, có lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp, thầy giáo uy tín... Vào mùa hè, nên chọn bể bơi có mái che hoặc đợi khi trời mát mới cho trẻ xuống nước. Vào mùa đông, nên chọn bể bơi trong nhà có nước ấm. 

- Mua đầy đủ quần áo bơi, kính bơi, mũ bơi, nút tai ngăn nước... Những vật dụng cần thiết này sẽ giúp trẻ xuống nước cảm thấy thoải mái và hào hứng với việc học bơi hơn, nhờ đó việc học bơi cũng nhanh chóng và dễ dàng hơn. 

- Không nên cho con ăn no khi đi tập bơi.

- Sau mỗi buổi học bơi, bố mẹ cần tắm tráng sạch sẽ cho trẻ, lau khô người và mặc quần áo khô ngay, rửa mũi, mắt bằng nước muối, sấy tóc, thấm tai để phòng tránh bệnh cho trẻ.

- Thời gian cho mỗi buổi học bơi không nên quá 30 - 45 phút, tùy từng độ tuổi. Với trẻ sơ sinh, một lần tập bơi nên kéo dài chỉ khoảng 10 - 20 phút. 

8/3/16

Những điều cần biết về mọc răng ở trẻ em

Thông thường, bé bắt đầu nhú những chiếc răng đầu tiên từ 6 đến 7 tháng tuổi. Hàm răng tiếp tục được hoàn thiện cho đến khi bé vào tuổi 2-3. Đến thời điểm này, tất cả 20 chiếc “răng sữa” của bé sẽ đều xuất hiện.

Song vẫn có những trường hợp bé sinh ra đã có răng và nhiều trường hợp khác 6-7 tháng tuổi vẫn chưa có chiếc răng nào, dân gian gọi là răng mọc “chậm”.


Dấu hiệu bé mọc răng

Bé đang mọc răng thường thích cắn, gặm đồ vật, hay cáu kỉnh và thường xuyên đòi bế.

Nếu con bạn không có vẻ gì là đau ốm, song tâm trạng bé không vui, hãy kiểm tra lợi của con.

Nếu bé đang mọc răng, bạn sẽ cảm thấy một cục cứng hoặc một điểm nhọn nhô lên bề mặt lợi. Chỗ gồ lên trông có vẻ đau và sưng.

Các triệu chứng khác bao gồm:

- Má ửng hồng

- Bé đưa cả nắm đấm tay vào miệng

- Chảy dãi

- Hay cắn

- Đi tướt (do một loại enzym được phóng thích trong quá trình bé mọc răng cùng với việc bé nuốt quá nhiều nước miếng).

- Bé ngủ không ngon, hay tỉnh giữa giấc

Cần lưu ý một điều rằng, mọc răng không làm cho bé bị ốm, song các ông bố bà mẹ có xu hướng đổ mọi nguyên nhân bé ốm cho việc mọc răng. Nôn mửa, tiêu chảy hay sốt cao không có liên quan gì đến bé mọc răng cả, đó là triệu chứng của một căn bệnh nào đó và bố mẹ tốt nhất nên đưa bé đến gặp bác sĩ để tìm ra.



Các nguyên nhân khiến bé chậm mọc răng

Khoảng 6 tháng tuổi, bé sẽ mọc những chiếc răng sữa đầu tiên. Giai đoạn 2 đến 2 tuổi rưỡi, bé có thể mọc được 20 chiếc răng.

Bác sĩ có thể dựa vào số lượng răng để theo dõi sự phát triển thể chất ở bé. Số răng của bé có liên quan đến số tháng tuổi (bình thường, số răng của bé bằng số tháng tuổi trừ đi 4). Tuy nhiên, nếu bé 8-9 tháng tuổi mới mọc răng nhưng thể chất và tinh thần vẫn phát triển tốt thì không có vấn đề gì đáng lo ngại.

Cũng có trường hợp, bé 18 tháng tuổi mới mọc răng (tức là chậm hơn mức bình thường hơn 1 năm). Nguyên nhân của trường hợp này là do sinh lý.

Ngoài ra, các nguyên nhân khác trì hoãn việc mọc răng ở bé bao gồm.

Bé bị thiếu canxi

Nguồn dinh dưỡng chính của bé khoảng 6 tháng tuổi vẫn là sữa mẹ. Thông thường, bé bú mẹ hoàn toàn sẽ được cung cấp đầy đủ canxi. Trường hợp thiếu canxi dễ xảy ra với nhóm bú bình hoặc chất lượng sữa mẹ kém (nguyên nhân là do người mẹ ăn uống kiêng kem hoặc chế độ dinh dưỡng nghèo nàn).

+ Bé hấp thụ quá nhiều photpho cũng có nguy cơ thiếu canxi. Bởi vì khi ấy sự hấp thụ canxi tự nhiên trong cơ thể bé sẽ bị sụt giảm.

Bé bị còi xương

Tình trạng này có liên quan đến giảm khả năng hấp thụ vitamin D ở bé. Thức ăn và ánh nắng mặt trời là 2 nguồn cung cấp vitamin D tự nhiên cho cơ thể. Trong đó, các loại thịt, cá, trứng, sữa thường dồi dào vitamin D hơn các loại rau, củ. Người mẹ cũng nên lưu ý rằng vì vitamin D là loại vitamin có khả năng tan trong dầu nên nếu chế độ ăn của bé không đủ chất béo thì vitamin D cũng khó hấp thụ.

Các triệu chứng còi xương khác ở bé như thường xuyên quấy khóc khi ngủ; bé đổ mồ hôi trộm; lồng ngực lép, thóp rộng…. Để tránh nguy cơ bé chậm mọc răng do còi xương, bạn nên lưu ý một số điểm sau.

+ Trong giai đoạn có thai và cho con bú, người mẹ nên ăn uống đa dạng và đủ chất. Tuyệt đối không nên ăn kiêng.

+ Bạn có thể bắt đầu cho bé một tháng tuổi tắm nắng. Mỗi ngày khoảng 15-20 phút trước 9h sáng. Nên duy trì hoạt động tắm nắng cho bé liên tục hàng ngày.

+ Nên chú ý cung cấp đầy đủ chất đạm và chất béo trong quá trình ăn dặm của bé. Bạn nên nêm thêm dầu ăn trong bát bột (hoặc cháo) cho bé.

Bé bị suy dinh dưỡng

Nếu trong vòng vài tháng liên tục bé không tăng cân, có khả năng bé bị suy dinh dưỡng. Thực đơn cho bé ăn dặm nên đảm bảo các yếu tố chất đường, đạm, tinh bột, chất béo.

Tuy nhiên, bạn nên chú ý đến nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của bé thay vì ép bé ăn. Có thể tăng khẩu phần ăn cho bé nhưng nên từ từ. Mỗi tuần, bạn cho bé ăn nhiều hơn một chút.

Bé 8-12 tháng tuổi có thể ăn 3 bữa cháo mỗi ngày. Bạn nên nấu kèm cháo với thịt (hoặc tôm, cua, cá, lươn), các loại rau (bồ ngót, rau dền…) để thay đổi khẩu vị cho bé. Mỗi tuần, bạn nên cho bé ăn thêm 2-3 bữa carrot hoặc bí đỏ. Nấu bữa nào, bạn nên cho bé ăn dứt điểm bữa đó; tránh hâm lại đồ ăn cho bé.

Để tránh nguy cơ bé chậm mọc răng do suy dinh dưỡng, bạn nên chú ý một số điểm sau.

+ Lượng sữa cần thiết cho bé là khoảng 500-800ml mỗi ngày. Bạn cũng có thể cho bé dùng thêm sữa chua hoặc phômai.

+ Nên cho bé ăn thêm các loại hoa quả tươi: Bạn có thể ép lấy nước cho bé uống hoặc xay cả bã và cho bé dùng.

+ Ngủ đủ giấc và khuyến khích bé vận động cũng là biện pháp kích thích bé ăn ngon miệng, tránh suy dinh dưỡng.

+ Ngoài ra, bạn cũng nên tập cho bé ăn uống theo thời gian biểu, tránh ăn vặt.

Lưu ý: Việc bổ sung vitamin D và canxi dưới dạng thuốc là cần thiết nhưng bạn phải tuân theo chỉ định của bác sĩ. Bạn không nên tự ý cho bé dùng vitamin vì bé có thể bị ngộ độc do uống vitamin quá liều hoặc trong thời gian dài.

Đôi điều lưu ý khi trẻ mọc răng

Mọc răng là một bước phát triển tự nhiên bình thường giống như mọc tóc vậy. Thế nhưng, nó cũng là một nguyên nhân gây lo lắng ở một số trẻ.

Những vấn đề về mọc răng

Có một số đứa trẻ sinh ra đã có răng, một số mọc chiếc răng đầu tiên (răng sữa) từ khoảng tháng thứ sáu, trong khi có những đứa không mọc chiếc nào cho tới tận lúc 1 tuổi. Khác nhau là vậy, nhưng tất cả trẻ con sẽ mọc đủ răng sữa khi chúng được 2 tuổi rưỡi và bắt đầu thay răng khi lên 6.

Các nghiên cứu đều cho thấy trẻ con thường bị sốt nhẹ khi răng nhú lên khỏi lợi. Đối với một số đứa, mọc răng làm chúng trở nên cáu kỉnh, hay thức dậy và khóc vào ban đêm, chảy nước dãi và chúng cần được quan tâm một cách nhẹ nhàng.

Mọc răng đôi lúc cũng gây ra những phiền toái cho trẻ như tính khí cáu giận, chảy nước mũi ròng ròng, hay quấy khóc và còn cả đi tướt nữa. Nếu lo lắng về những hành động của con mình, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ hay các nhà tư vấn sức khoẻ, và cũng đừng quy hết những hành động khác thường đó là do mọc răng. Mọc răng không làm cho trẻ ốm.

Bạn có thể nhận biết trẻ mọc răng khi thấy lợi của bé sưng đỏ lên, một bên má đỏ hồng và bé dường như khó tính hơn. Chảy nước dãi và hay gặm thứ gì đó cũng là những biểu hiện thường thấy.

Biện pháp giúp đỡ trẻ

- Âu yếm, an ủi, vỗ về trẻ để tạo cho trẻ cảm giác yên tâm, làm bất cứ điều gì bạn thấy cần thiết để làm dịu đi cái đau của trẻ.

- Tham khảo ý kiến bác sĩ về chất gel hay bột không đường có thể bôi lên lợi của trẻ. Nhưng nên nhớ không được sử dụng các chất này cho trẻ dưới 4 tháng tuổi.

- Thuốc paracetamol không đường có thể hữu ích nếu con bạn bị sốt. Hỏi ý kiến bác sĩ và đọc kỹ hướng dẫn sử dụng để chắc chắn rằng thuốc có thể dùng cho trẻ ở độ tuổi của con bạn.

- Vòng mọc răng - một vài bậc phụ huynh thường dùng những cái vòng này cho trẻ nhai. Một số khác lại để cho trẻ nhâm nhi những ngón tay đã được rửa sạch của chúng hay cho chúng gặm những mẩu bánh mì khô hoặc những miếng cà rốt gọt sạch vỏ.

Có bà mẹ than phiền: "Tôi không nghĩ là mọc răng lại làm con tôi khó chịu đến vậy, thế mà nó bị đau má và cằm vì nước dãi chảy xuống, sau đó nó bôi khắp mặt khi mút tay… Tôi đã phải dùng nhớt bôi vào để giữ cho mọi việc không trở nên tồi tệ hơn".

Đánh răng

Con bạn sẽ có khoảng 20 chiếc răng đầu tiên - 10 cái ở hàm trên và 10 cái ở dưới. Kể cả khi con bạn chỉ có 1 hay 2 chiếc răng thì chúng cũng cần được chăm sóc cẩn thận. Hãy chải răng cho con bạn ngay khi chiếc răng mọc lên, và cố gắng chải răng cho chúng ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi tối trước khi đi ngủ.

Bạn nên sử dụng một loại kem đánh răng có chứa fluorua cho con mình. Kem đánh răng trẻ em có thể có mùi vị hấp dẫn nhưng đừng chọn loại có nhiều flourua. Hỏi ý kiến nha sĩ nếu bạn thấy nghi ngờ điều gì đó về laọi kem bạn đã chọn.

Hãy là một tấm gương tốt cho con bạn noi theo vì chúng sẽ học tập thói quen vệ sinh răng miệng của bạn.

Đường và gia vị

Khẩu phần ăn của trẻ cũng rất quan trọng đối với việc hình thành và phát triển những chiếc răng khoẻ mạnh. Khi cho chúng ăn hay uống hãy tránh những thứ quá ngọt vì đường làm cho răng bị sâu.
Nên cung cấp lượng đường cho chúng bằng những thứ thay thế hợp lý như hoa quả tươi, rau xanh và nước. Tránh cho chúng ăn uống các loại nước có ga, xiro và kẹo.

- Tạo cho chúng thói quen ăn uống ngon miệng mà không có nhiều đường.

- Hạn chế đồ ăn và đồ uống chứa nhiều đường trong bữa ăn.
- Tránh các thức uống ngọt trước khi đi ngủ.

Nói với bạn bè và người thân không cho trẻ ăn bánh quy ngọt và snack nhiều đường mà thay vào đó là nho khô hay bánh quy nhạt chẳng hạn.